Định nghĩa lấy mẫu thuộc tính

Lấy mẫu thuộc tính liên quan đến việc chọn một số lượng nhỏ các giao dịch và đưa ra các giả định về cách các đặc điểm của chúng thể hiện toàn bộ tổng thể mà các mục được chọn là một phần. Khái niệm này thường được kiểm toán viên sử dụng để kiểm tra một tập hợp các đặc điểm nhất định, chẳng hạn như sự hiện diện của chữ ký ủy quyền hoặc dấu phê duyệt trên tài liệu. Khái niệm này có thể được sử dụng để xác định xem các kiểm soát kế toán khác nhau có đang hoạt động một cách đáng tin cậy hay không. Chức năng của các kiểm soát rất quan trọng đối với kiểm toán viên, vì họ sẽ tốn nhiều công sức hơn để thực hiện một cuộc kiểm toán khi các kiểm soát của khách hàng là không đáng tin cậy.

Kết quả của việc lấy mẫu thuộc tính là nhị phân - điều kiện tồn tại hoặc không tồn tại. Do đó, không có vùng xám trong lấy mẫu thuộc tính. Ví dụ về các thử nghiệm lấy mẫu thuộc tính điển hình là:

  • 50 trong số 60 hóa đơn được hỗ trợ bởi một đơn hàng bán hàng

  • 38 trong số 40 hóa đơn của nhà cung cấp lớn hơn 1.000 đô la có chữ ký phê duyệt

  • 19 trong số 20 lần mua sắm TSCĐ có văn bản ủy quyền hỗ trợ do chủ tịch công ty ký

  • 3 trong số 80 hóa đơn quá hạn thanh toán

  • Khoản chiết khấu thanh toán sớm không được thực hiện trên 2 trong số 11 hóa đơn của nhà cung cấp

  • 13 trong số 211 mục tạp chí đã được đăng vào tài khoản sai

Sau đó, kết quả của thử nghiệm lấy mẫu thuộc tính được so sánh với tỷ lệ lỗi có thể chấp nhận được đã thiết lập cho thử nghiệm đó. Nếu kết quả thử nghiệm kém hơn tỷ lệ sai số có thể chấp nhận được, thì điểm kiểm soát liên quan đến thử nghiệm đã không đạt và cần được sửa đổi hoặc thay thế. Ví dụ: nếu tỷ lệ sai sót có thể chấp nhận được đối với việc phê duyệt hóa đơn của nhà cung cấp là 3% và tỷ lệ được kiểm tra là 5%, có thể cần phải áp dụng các biện pháp kiểm soát bổ sung, đào tạo lại nhân viên và / hoặc thay đổi quy trình phê duyệt mua hàng để giảm tỷ lệ không đạt được chỉ định bằng cách lấy mẫu thuộc tính.

Khi tốc độ lấy mẫu đã kiểm tra nằm ngoài tỷ lệ lỗi có thể chấp nhận được, có thể việc tiến hành nhiều thử nghiệm hơn với cỡ mẫu lớn hơn sẽ dẫn đến tỷ lệ lỗi thực tế nằm trong tỷ lệ lỗi có thể chấp nhận được. Do đó, phản ứng đầu tiên của nhiều người đối với kết quả lấy mẫu thuộc tính cận biên là tiếp tục thử nghiệm với một nhóm mẫu lớn hơn. Việc mở rộng kích thước mẫu này thường xuyên không mang lại kết quả tốt hơn, vì kích thước mẫu ban đầu nhỏ hơn đã cung cấp thông tin chi tiết chính xác về tỷ lệ lỗi cơ bản.

Lấy mẫu thuộc tính được sử dụng nhiều để thử nghiệm các kiểm soát nội bộ. Sau đó, kết quả của các thử nghiệm này có thể được sử dụng bởi kiểm toán viên bên ngoài của công ty, những người này có thể chọn dựa (hoặc không) vào khả năng đã được kiểm tra của các kiểm soát kế toán khi xây dựng các thủ tục của riêng họ về cách thức kiểm toán báo cáo tài chính của công ty.