Lợi ích thiểu số

Lợi ích thiểu số là quyền sở hữu ít hơn một nửa số cổ phiếu đang lưu hành của công ty. Khi một doanh nghiệp có lợi ích thiểu số trong một đơn vị khác và nó không có ảnh hưởng đáng kể đến đơn vị đó, thì doanh nghiệp sẽ tính phần sở hữu của mình theo phương pháp giá gốc. Theo phương pháp này, đơn vị đầu tư ghi nhận khoản đầu tư ban đầu theo giá gốc. Nếu cổ tức nhận được từ đơn vị khác, chúng được ghi nhận là thu nhập từ cổ tức. Loại lợi ích thiểu số này được coi là lợi ích bị động.

Khi một doanh nghiệp có lợi ích thiểu số trong một đơn vị khác và nó có ảnh hưởng đáng kể đối với thực thể đó, thì doanh nghiệp đó sẽ tính phần sở hữu của mình theo phương pháp vốn chủ sở hữu. Theo phương pháp vốn chủ sở hữu, khoản đầu tư ban đầu sau đó được điều chỉnh cho cổ tức nhận được (làm giảm khoản đầu tư) và một tỷ lệ tương ứng trong thu nhập của bên được đầu tư (làm tăng khoản đầu tư).

Ví dụ, Công ty Cổ phần Retro sở hữu 25% cổ phiếu đang lưu hành của Công ty Cổ phần Hàng đầu Edge. Retro đã ghi nhận khoản đầu tư ban đầu vào Leading Edge là 3,7 triệu đô la. Trong năm tới, Leading Edge báo cáo thu nhập 500.000 đô la. Retro ghi nhận phần lợi nhuận tương ứng của nó, là $ 125,000. Do đó, khoản đầu tư của Retro vào Leading Edge tăng lên 3.825.000 đô la. Sau đó, Leading Edge trả cổ tức cho Retro là 25.000 đô la. Retro ghi lại số tiền này là một khoản giảm đầu tư của nó, sau đó giảm xuống còn 3,8 triệu đô la.

Khi có lợi ích thiểu số trong công ty con, công ty mẹ sở hữu đa số cổ phần trong công ty con ghi nhận lợi ích thiểu số trong báo cáo tài chính của mình.

Điều khoản tương tự

Lợi ích thiểu số còn được gọi là lợi ích không kiểm soát.